Thứ Bảy, ngày 22 tháng 9 năm 2012

BÀI TẬP THỬ THÁCH MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH (DÀNH CHO HỌC KỲ I - NĂM HỌC 2012-2013)


BÀI TẬP THỬ THÁCH MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
DÀNH CHO HỌC KỲ I - NĂM HỌC 2012-2013

Bài tập 1: Tại sao nói Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận, quyết định bước phát triển mới về chất của tư tưởng Hồ Chí Minh?
Bài tập 2: Phân tích những giá trị cở bản của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam?
Bài tập 3: Phân tích những giá trị cở bản của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sinh viên?
Bài tập 4: Phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa Hồ Chí Minh với Quốc tế cộng sản trong việc giải quyết vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp?
Bài tập 5: Tại sao nói quan điểm “Cách mạng giải phóng dân tộc được tiến hành một cách chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc” là một nét sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh?
Bài tập 6: Cơ sở nào để Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội không những thích ứng được ở châu Á mà còn thích ứng dễ hơn ở châu Âu”?
Bài tập 7: Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh “Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của chủ nghĩa xã hội”. Để trở thành con người xã hội chủ nghĩa cần có những tố chất gì?
Bài tập 8: Anh (chị) hãy phân tích tính đúng đắn và sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?
Bài tập 9: Nêu và phân tích 2 điểm sáng tạo lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bài tập 10: Phân tích tính khoa học và cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền?
Bài tập 11: Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng, theo anh (chị) nội dung nào quan trọng nhất, vì sao?
Bài tập 12: Phân tích sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong quan điểm “Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân và tính dân tộc”.
Bài tập 13: Phân tích tính khoa học và cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền?
Bài tập 14: Phân tích tính khoa học và cách mạng của những chuẩn mực đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức?
Bài tập 15: Tại sao nói “trung với nước, hiếu với dân” trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh tạo nên một cuộc cách mạng trong quan niệm về đạo đức và là cốt lõi của đạo đức cách mạng?
Bài tập 16: Chứng minh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, người khởi xướng phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của thế kỷ XX?
Bài tập 17: Chứng minh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam?
Bài tập 18: Tại sao học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một nội dung quan trọng đối với toàn Đảng, toàn dân và chính bản thân sinh viên?
Bài tập 19: Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Đảng ta đã vận dụng vấn đề này trong giai đoạn cách mạng hiện nay như thế nào?
Bài tập 20: Vì sao trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sinh viên không chỉ học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, mà còn học tập, nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh?

DANH SÁCH CÁC NHÓM ĐĂNG KÝ VÀ BÀI TẬP PHÂN CÔNG
NHÓM 5
Họ và tên
Bài tập
Họ và tên
Bài tập
1. Đặng Thị Mỹ
Phạm Thị Hồng
Đào Quang Bạch
Lê Văn Hân
6
2. Hầu Thị Kim Chi
Nguyễn Thị Minh Hòa
Hồ Thị Khánh Huyền
Lê Thị Thu Hà
7
3. Trần Thị Lê
Nguyễn Thị Thúy Nhạn
Hoàng Thị Hương
Trần Duy Hải Thanh
8
4. Nguyễn Thị Mỹ Nhân
Nguyễn Thị Nhung
Huỳnh Thị Trang
Lê Thị Thu Sương
Trần Thị Luyện
9
5. Bùi Công Huy
Phan Văn Hoan
Nguyễn Thị Bích Huệ
Lê Thị Thanh
Bùi Hà Thanh
10
6. Nguyễn Thị Tâm
Trần Gia Thị Kiều Thanh
A Đeng Trường
Trần Mạnh Tuấn
11
7. Nguyễn Thị Hường
Trần Thị Lộc
Đinh Thị Mỹ Huân
Vũ Huyền Trang
Lê Thị Tuyết
12
8. Hồ Thị Lưu
Nguyễn Thị Phương
Trần Hải Thúy
Võ Thị Thanh Hoa
13
9. Hà Thị Chi
Nguyễn Thị Nụ
Nguyễn Thị Hồng Lan
Kim Thị Trang
14
10. Hồ Mạc Tú Chi
Trần Thị Thanh Huyền
Đậu Thị Thùy Trang
Nguyễn Thị Kim
15
11. Đào Thị Thu Hà
Lê Thị Thúy Vy
Lê Thị Bình
Lê Thị Lôi
Huỳnh Thị Tám
16
12. Nguyễn Thị Khuyên
Lê Thị Thảo
Nguyễn Thị Hương
Trần Thị Hoài
Y Glinh
17
13. Nguyễn Văn Lạng
Đinh Tú Nam
Phạm Thùy Mỹ
Đoàn Phan Ngọc Linh
Hồ Thị Đào Lương
18
14. Trần Thị Huê
Lê Thị Lan
Trần Thị Ly
Trương Thị Bích Ngọc
Nguyễn Thị Ngọc Ni
19
NHÓM 6
1. Đỗ Thị Như Thảo
Nguyễn Thị Thu Thảo
Nguyễn Thị Hồng Vinh
6
2. Nguyễn Thị Lan Hương
Sầm Thị Kiểu
Trần Thị Hằng
7
3. Nguyễn Thị Thanh
Trần Thị Anh Hồng
Lê Thị Thảo
Hồ Thị Huyền Trang
Nguyễn Thị Trang
8
4. Nguyễn Thanh Huy
Phan Thị Tú Anh
Dương Thị Thùy Liên
9
5. Lê Mây Tím
Lê Thị Thêm
Phạm Thị Phương Thảo
Nguyễn Thị Mộng
10
6. Đoàn Thị Trường Vy
Trần Thị Mỹ Hằng
Trần Thị Phương
11
7. Từ Thị Phương
Trương Thị Huệ
Hồ Thị Phương Vi
12
8. Ngô Thị Tịnh
Trần Thị Hải Yên
Nguyễn Ngọc Quang
14
9. Hồ Nguyên Lành
Nguyễn Thị Lài
Trần Văn Thuận
Lê Văn Diễn
16
10. Phạm Thị Thái
Phạm Thị Thơ
Tôn Nữ Thị Tuyết Mỹ
Nguyễn Thị Vân
17
11. Ngô Thị Thu Minh
Trần Thị Tình
Nguyễn Thị Quỳnh
Ngô Thị Kim Duyên
20


NHÓM 7
1. Nguyễn Thị Mỹ (1993)
Nguyễn Thị Mỹ (1992)
Nguyễn Thị Nhụy
Phạm Thị Kiều Oanh
6
2. Phạn Thị Nhân
Nguyễn Thị Oanh
Hồ Thị Thanh Ngoan
Nguyễn Hữu Hùng
Nguyễn Hữu Lương
7
3. Nguyễn Văn Hiếu
Nguyễn Đôn Hùng
Ngô Hữu Hải
Nguyễn Minh Chương
Lê Thị Ly
9
4. Hoàng Thị Hường
Trần Thị Tường Vi
Nguyễn Thị Thanh Đào
Ngô Thị Nhã Phương
Nguyễn Thị Thùy Trang
11
5. Lê Như Nguyên
Trần Thị Lợi
Trịnh Thị Kim Oanh
Lê Văn Vĩnh Phúc
12
6. Vũ Thị Huyền
Âu Thị Hoa
Nguyễn Thị Nhan
Nguyễn Thị Ly
14
7. Nguyễn Thị Tú Anh
Ngô Thị Ngọc Lành
Huỳnh Thị Quý Nhung
Trần Thị Thúy
16
8. Lê Thị Nhung
Phạm Thị Mỹ Linh
Nguyễn Thị Thu Phương
Hoàng Thị Kim Ngọc
Lê Thị Phương
17
9. Hoàng Trọng Nhân
Hà Thùy Trang
Lê Tuấn Vũ
Dương Thị Ngoan
Nguyễn Thị Phương Hoa
20


NHÓM 8
1. Bùi Thị Bình
Đinh Thị Thu Hoài
Đinh Thị Thu Hà
Châu Thị Thu Hương
Đinh Thị Thu Lan
6
2. Nguyễn Xuân Diệu Ánh
Đỗ Ngọc Hoài Thu
Trần Thị Đào
Nguyễn Thị Diệp (chuyển 6->7)
7
3. Đinh Hữu Chiến
Tưởng Công Gian
Hồ Thị Chè
8
4. Hồ Thị Nga
Hồ Hoàng Thanh Ngọc
Phạm Thị Hoa
Phạm Thị Phương Anh
9
5. Nguyễn Thị Huyền
Dương Thị Hằng
Lê Thị Diệu Linh
Hoàng Thị Ly
Phạm Thị Thùy Linh
11
6. Lê Thị Mỹ Duyên
Lê Quỳnh Châu
Hoàng Thị Hương Lan
Nguyễn Thị Tường Vi
12
7. Phạm Thị Thúy Trinh
Trà Thị Khánh Nhi
Đặng Thị Lượt
13
8. Lê Văn Minh
Nguyễn Thị Hà
Lê Thị Ái Vân
Lê Thị Kiều Oanh
Nguyền Thị Thùy Dung
14
9. Hà Thị Mỹ Linh
Trần Thị Hà
Hồ Thị Quỳnh Như
Trương Thị Ny
Phạm Thị Thu Thảo
15
10. Vi Thị My
Hà Thị Lệ
Lô Thị Anh
Nguyễn Ngọc Họa Mi
16
11. Nguyễn Thị Thảo Ly
Ngô Thị Mến
Phan Thị Thu Bay
Phạm Thị Lành
17
13. Hồ Thị Sa
Lê Thị Thương
Lương Sỹ Vương
Trần Thị Hạnh
18
12. Phạm Thị Bích Liên
Trần Thị Thanh Bình
Trần Thị Tín
Lê Thị Kim Chi
20


NHÓM 9
1. Bùi Thị Nga
Lê Thị Dạ Thảo
Nguyễn Thị Thương

6
2. Từ Thị Hải
Ngô Thị Thanh Hiền
Võ Thị Mỹ
Nguyễn Lê Hồng Thắm
7
3. Nguyễn Thị Kim Anh
Đặng Thị Kim Anh
Phạm Thị Thanh Tấn Liên
Võ Thị Ly
Nguyễn Thị Kim Oanh
9
4. Lê Thị Thùy Phương
Nguyễn Thị Như Quỳnh
Trần Thanh Thảo
Trần Thị Lan
11
5. Phạm Phước Pha
Trần Đại Cường
Trần Minh Quân
Trần Thị Phương Uyên
12
6. Lê Thị Kim Oanh
Nguyễn Thị Thu Hương
Lê Thị Mùa
Lê Thị Thu Thảo
Nguyễn Ngọc Bốn
13
7. Võ Thị Lành
Nguyễn Thị Thuận
Nguyễn Thị Thanh Thủy
14
8. Nguyễn Văn Thạnh
Trần Thị Xê
Lê Thị Vẽ
Lê Thị Vy
Nguyễn Đình Huỳnh Linh
16
9. Hồ Văn Thiếu
Hồ Thị Xinh
Võ Thị Phương
Lê Thị Diệu
Võ Thị Huệ
17
10. Lê Thị Ngân
Lê Thị Phúc
Nguyễn Thị Mỹ Nhi
Nguyễn Thị Phương
Lê Thị Nga
20
NHÓM 10
1. Nguyễn Thị Lành
Lê Thị Huyền
Trần Thị Hai
Đặng Thị Hoàn
Phạm Thị Huệ
7
2. Hoàng Thị Mỹ Hoa
Nguyễn Thị Hoài Diễm
Huỳnh Thị Duyên
9
3. Nguyễn Thị Thùy Dương
Đinh Thị Nhã Phương
Lê Thu Huyền
Phạm Thị Diệu An
Trần Thị Thúy Kiều
11
4. Đỗ Thị Vân
Lê Thị Ái Tư
Lê Thị Bích Thủy
12
5. Hồ Thị Huệ
Nguyễn Thị Hồng Diệu
Hồ Thị Thanh Thanh
Hoàng Thị Tường Vân
Võ Thị Thu Hiền
14
6. Nguyễn Thị Mỹ Hương
Võ Thị Huyền
Trần Thị Thanh Bình
Trần Thị Ngọc Hồng
Ngô Nguyễn Ngọc Ánh
16
7. Trịnh Thị Mỹ Duyên
Lê Thị Ngọc Bích
Phạm Thị Mỹ Hạnh
Nguyễn Thị Hằng
Nguyễn Thị Lan Anh
17
8. Phạm Thị Thu Anh
Lê Thị Minh Đức
Nguyễn Thị An
Nguyễn Thị Huế
Nguyễn Thị Dung
19
9. Nguyễn Thị Dương
Trần Thị Hoàng Hậu
Dương Thị Huyền
Lê Thị Thu Hiền
20


NHÓM 11
1. Nguyễn Thị Thu Hằng
Nguyễn Bá Hậu
Lê Thị Thanh
Nguyễn Thị Như Nguyên
9
2. Phan Thị Huyền
Hà Thị Nhiên
Hồ Anh Tiến
Phạm Thị Liên
Phùng Hữu Hóa
11
3. Nguyễn Thị Mơ
Trần Thị Oanh
Hoàng Thị Nhung
Hồ Thị Na
Lê Thị Hằng
12
4. Võ Thị Hiệp
Trần Thị Kiều Loan
Lê Thị Quyên
Hồ Thị Nga
Nguyễn Thị Nga
13
5. Phan Thị Như Loan
Trần Thị Mỹ Phương
Nguyễn Thị Ngọc Quý
Lê Thị Thanh Mai
Nguyễn Thị Hoài Uyên
14
6. Đặng Thị Yến Nhi
Nguyễn Thị Hương
Phạm Thị Hằng
16
7. Phạm Thị Hoài Phương
Hà Thị Ngọc
Diêu Thị Phương
Hoàng Thị Thanh

17



Thứ Năm, ngày 13 tháng 9 năm 2012

ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA HUẾ ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC HỒ CHÍ MINH


Tóm tắt: Thừa Thiên Huế là một trong những vùng đất góp phần quan trọng  cho hình thành nhân cách, tư tưởng yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc, giải phóng đồng bào của người thanh niên ưu tú Nguyễn Tất Thành. Bài báo tập trung luận giải những ảnh hưởng của văn hóa Huế đến sự hình thành tư tưởng yêu nước Hồ Chí Minh trong thời kỳ ở Huế.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thừa Thiên Huế những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có nhiều biến đổi vô cùng sâu sắc, Trung kỳ trở thành xứ bảo hộ thuộc Pháp. Cũng vào khoảng thời gian này, Nguyễn Tất Thành đã theo cha vào Kinh học tập và khám phá những giá trị mới. Tại đây, đời sống văn hóa - chính trị đã tác động mạnh mẽ đến Nguyễn Tất Thành, và bằng sự mẫn cảm của người học trò thông minh, sự khát khao học hỏi, chiếm lĩnh tri thức mới và tâm hồn của một thanh niên yêu nước, Người đã thâu nhận những giá trị của văn hóa Huế, tiếp nhận những tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại. Những giá trị của văn hóa và con người xứ Huế thực sự tác động mạnh mẽ đến sự hình thành, phát triển nhân cách và tư tưởng yêu nước của người thanh niên ưu tú Nguyễn Tất Thành.
2. MỘT SỐ GIÁ TRỊ TIÊU BIỂU CỦA VĂN HÓA HUẾ
Từ nhiều góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu Huế đã cắt nghĩa văn hóa Huế theo nội hàm và ý nghĩa riêng. Dưới góc độ giá trị, văn hóa Huế là tổng hòa các giá trị vật chất và tinh thần, truyền thống, thị hiếu và phong cách sống; được tạo nên từ quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội; khẳng định bản sắc riêng của vùng đất và con người Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế. Trải qua quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội, đấu tranh với các thế lực ngoại xâm cũng như giao lưu, tiếp biến văn hóa, Thừa Thiên Huế là đã định hình và hun đúc nên những giá trị văn hóa vừa mang sắc thái văn hóa chung của Việt Nam, nhưng cũng có những nét riêng độc đáo của văn hóa vùng miền.
2.2.1. Truyền thống yêu nước, tự tôn dân tộc
Trong quá trình xây dựng và phát triển của vùng đất Thừa Thiên Huế, truyền thoongd yêu nước là nét văn hóa đặc sắc nhất trong chuỗi giá trị tinh thần của văn hóa Huế. Những năm đấu tranh chống lại âm mưu đồng hóa của các thế lực phương Bắc, chống ách áp bức bóc lột của bè lũ thực dân đã hun đúc cho lớp lớp người Huế tinh thần yêu nước, lòng tự hào tự tôn dân tộc vô cùng sâu sắc. Tinh thần đó được thể hiện rõ nhất khi thực dân Pháp áp đặt ách cai trị lên toàn lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là khi triều đình nhà Nguyễn ký hòa ước đầu hàng thực dân Pháp. Bên cạnh những vua quan cam chịu làm tay sai vẫn còn có những bậc minh quân, các trung thần, đấng trượng phu có tinh thần dân tộc, đứng lên lãnh đạo các cuộc đấu tranh, tiêu biểu như vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân với các trung thần như Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Thuyết và những người Việt Nam  tâm huyết muốn canh tân để tạo thực lực, đẩy mạnh tự cường đưa đất nước thoát khỏi nạn ngoại xâm. Đến đầu thế kỷ XX, sự thất bại xu hướng cứu nước theo ý thức hệ phong kiến đã mở đường cho những xu hướng cứu nước mới. Sự du nhập những tài liệu Tân văn, Tân thư, các ấn phẩm yêu nước, tư tưởng cải cách đã “lột xác” phong trào yêu nước trong cả nước, đất Thừa Thiên Huế dấy lên phong trào đòi cải cách thông qua nhiều hình thức vận động, diễn thuyết, cắt tóc ngắn, mặc âu phục… Sự giác ngộ và ý thức tự tôn dân tộc của thanh niên, học sinh, những nhà giáo, chí sĩ yêu nước đã được khơi dậy, làn sóng đấu tranh chống thực dân lan nhanh và ngày càng quyết liệt hơn, điển hình là phong trào chống thuế ở Trung kỳ vào năm 1908.
2.2.2. Truyền thống đoàn kết, cộng đồng, tương thân tương ái
Lối sống cộng đồng, đoàn kết là một trong những đặc trưng của văn hóa tinh thần xứ Huế, đó là sản phẩm của ruộng đất công làng xã, là kết tinh của sự đấu tranh trong điều kiện sinh thái vô cùng khắc nghiệt. Chính đặc điểm hình thái khí hậu nhiệt đới và địa hình dốc cùng với lượng mưa lớn nên ngay từ rất sớm, người Huế đã đoàn kết, gắn bó và thương yêu nhau hơn trong sản xuất nông nghiệp, cũng như trong quá trình xây dựng và phát triển vùng đất này.
Trong quá trình đấu tranh với các thế lực ngoại bang, đặc biệt là quá trình “hỗn dung”, giao thoa văn hóa Việt - Chăm; tiếp biến văn hóa Trung - Ấn; tiếp nhận văn hóa phương Tây đã hình thành cho người Huế tinh thần đoàn kết cộng đồng, tự tôn dân tộc và tự tôn văn hóa trước âm mưu đồng hóa của kẻ thù. Thực tiễn đấu tranh chống ngoại xâm đã vun đắp tinh thần đoàn kết, lối sống tình nghĩa, thương yêu, đùm bọc nhau trong khó khăn, hoạn nạn của con người xứ Huế. Chính gia đình Nguyễn Tất Thành đã thấm đượm giá trị nhân văn cao quý này khi cụ Sắc, vợ và các con được cưu mang và giúp đỡ trong thời kỳ ông ứng thí ở Kinh đô Huế, đặc biệt là lúc thân mẫu của Nguyễn Sinh Cung qua đời.
2.2.3. Truyền thống hiếu học, đề cao lễ giáo
Thừa Thiên Huế là một vùng đất văn hóa điển hình của Việt Nam còn lưu giữ những giá trị có tính chuẩn mực như truyền thống hiếu học, đề cao lễ giáo, giữ gìn tôn ti trật tự trong gia đình và xã hội… Lịch sử đã ghi nhận Thừa Thiên Huế là “vùng đất học” bởi không chỉ vì nơi đây từng là trung tâm văn hóa lớn của cả nước - nơi hội tụ của các bậc chí nhân, hào kiệt; nơi của những trường học và nền giáo dục mới (trường Quốc Học, Quốc Sử quán…) mà còn là kết quả của truyền thống trọng văn hóa, lễ giáo, tiết nghĩa, hiếu học, tôn sư trọng đạo trong mỗi gia đình và con người xứ Huế. Sách Đại Nam nhất thống chí viết Huế là vùng đất học có truyền thống “dân thứ siêng cấy”, “sĩ phu chăm học hành” [7, tr.116]. Chính lối sống trọng nghĩa trọng tình, đề cao lễ giáo văn hóa cùng với nhân cách cao đẹp của các chí nhân hào kiệt xứ Huế đã khắc sâu vào tâm khảm của biết bao thế hệ, hình thành những con người với nhân cách cao đẹp đã làm rạng danh dân tộc, mà điển hình nhất là Hồ Chí Minh.
Giá trị của văn hóa Huế còn được biểu hiện qua phong cách sống của người Huế. Phong cách ấy được hình thành và bồi đắp từ nghệ thuật sống, cung cách ứng xử của nhiều thế hệ người Huế. Qua biết bao thăng trầm của lịch sử, con người xứ Huế vẫn còn bảo lưu được nét mộc mạc, chân chất trong lối sống, sự tinh tế, lịch thiệp, hòa nhã trong giao tiếp ứng xử nhưng lại rất mạnh mẽ, kiên trong trong đấu tranh chống ngoại xâm. Trải qua thời gian và sự vận động không ngừng của cuộc sống, vốn quý ấy luôn luôn được chắt lọc, bổ sung và lắng lại thành những tinh hoa làm nên bản sắc văn hóa Huế, đó chính là phần cốt lõi nhất của truyền thống văn hóa Huế. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này bên cạnh tính rắn rỏi đậm chất Nghệ Tĩnh thì cũng rất uyên thâm, tế nhị và lịch lãm đậm nét xứ Huế. Văn hóa Huế cùng với văn hóa xứ Nghệ thực sự ngấm sâu vào tâm thức, chi phối suy nghĩ và hành động của Người.
3. ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA HUẾ ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC HỒ CHÍ MINH
3.1. Khơi dậy lòng yêu nước, căm thù thực dân và phong kiến tay sai
Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đời sống chính trị của triều Nguyễn vô cùng ngột ngạt, xã hội Huế là cao điểm của những diễn biến chính trị và mâu thuẫn xã hội. Ngay tại Kinh đô, triều đình phong kiến nhà Nguyễn vẫn tồn tại nhưng hoàn toàn mất hết thực quyền. Đánh giá về thái độ bạc nhược của triều đình phong kiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này có viết: “Cuối thế kỷ XIX chủ nghĩa đế quốc Pháp xâm lược Việt Nam. Bọn vua quan và phong kiến hèn nhát đầu hàng và cấu kết với bọn đế quốc tiếp tục nô dịch nhân dân Việt Nam nhiều hơn, khiến nhân dân Việt Nam khổ cực rên xiết” [6, tr.313-314].
Đến Huế từ cuối năm 1895, Nguyễn Sinh Cung cùng anh theo cha mẹ sống ở một gian trại lính ở Viện đô sát ngay trong Kinh thành Huế. Nơi đây còn lưu giữ những “chứng cứ” của sự biến “Thất thủ Kinh đô”. Sống trong Kinh thành, biến động lịch sử của đất nước từ có chủ quyền trở thành thuộc địa, nỗi nhục mất nước, mất mát, tang thương cùng với âm hưởng thống thiết của các bài văn tế đã để lại những dấu ấn khó phai trong người thiếu niên mẫn cảm ấy. Sau này, khi ông cả Khiêm thăm cụ Phan Bội Châu đang bị quản thúc ở dốc Bến Ngự đã thuật lại:
Không phải đến tuổi trưởng thành ra ngoại quốc em tôi mới ái quốc, mà từ khi đầu còn để trái đào đi chơi nghe người ta hô câu vè: “Nay mà mắc phải lâm nguy, Sự tình nông nổi cũng vì giặc Tây”, về nhà nó thương nước, trằn trọc không ngủ được. Sáng dậy, em bắt mẹ tôi kể chuyện giặc Tây dương và ngày Kinh thành thất thủ,…, em tôi ngồi tai nghe, chau mày nghĩ ngợi [10, tr.62].
Ngoài ra, thực dân Pháp thi hành chính sách giáo dục cực kỳ phản động - một nền giáo giáo dục ngu dân. Mặc dù mang danh “giáo dục cải cách” để “khai hóa văn minh” cho người An Nam, nhưng kỳ thực thực dân Pháp phong tỏa, không cho nhân dân Việt Nam tiếp xúc với thế giới bên ngoài, kể cả việc xem sách báo. Thực dân Pháp nhồi nhét cho lớp lớp học sinh người Việt những “giá trị ảo”, những “lý lẽ ngọt ngào” của nền “văn minh khai hóa”, giáo dục cho học sinh người Việt “lòng biết ơn”, “lòng trung thành”, “tận tụy” với nước Pháp, xuyên tạc lịch sử, truyền thống dân tộc Việt Nam. Trường học lập ra không phải để giáo dục cho thanh niên Việt Nam một nền học vấn tốt đẹp và chân thực, mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng, mà trái lại càng làm cho họ bị đầu độc thêm. Trường học được lập nên chỉ để “đào tạo tùy phái, thông ngôn và viên chức nhỏ đủ số cần thiết phục vụ cho bọn xâm lược - người ta đã gieo rắc một nền giáo dục đồi bại xảo trá và nguy hiểm hơn sự dốt nát nữa” [5, tr.399].
Trong thời kỳ thứ hai đến Huế (1906-1909), Nguyễn Tất Thành được cha cho theo học trường Quốc Học Huế. Bên cạnh những thầy giáo có tinh thần dân tộc, Thành còn tiếp xúc với những thầy giáo mang tâm địa thực dân, những bài giảng “nhồi sọ”. Chúng lăng mạ, gán ép những từ thô tục như “cochon”, “sale race” cho học sinh người Việt, chà đạp lên phẩm giá con người, sỉ nhục dân tộc và giống nòi Việt Nam. Chính hành động “phi văn hóa” của nền giáo dục mà thực dân Pháp gọi là “khai hóa”, đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến lớp lớp học sinh người Việt, khơi dậy trong họ tinh thần dân tộc, không cam chịu “nhận người Gaulois làm tổ tiên”. Nguyễn Tất Thành không muốn bản thân mình và dân tộc mình bị đánh lừa mãi bởi những từ trống rỗng, bởi những dối trá về văn hóa, văn minh. Do vậy, khi các trào lưu yêu nước ở Thừa Thiên Huế dâng cao, tinh thần dân tộc và lòng yêu nước thiết tha của Nguyễn Tất Thành có dịp bùng phát.
3.2. Thúc đẩy sự hình thành tư tưởng yêu nước, thương dân
Hệ quả từ những chính sách cai trị hà khắc mà thực dân Pháp gây ra là cuộc sống lầm than cơ cực của nhân dân Thừa Thiên Huế. Thực cảnh đó sớm tác động đến Nguyễn Sinh Cung và hình thành trong Anh lòng yêu nước, thương dân vô cùng sâu sắc.
Sau khi thực dân Pháp đàn áp cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1896), quyền quản lý kinh tế - tài chính của triều đình nhà Nguyễn hoàn toàn bị tước bỏ, thực dân Pháp “cướp hết những ruộng đất màu mỡ, đánh vào những ruộng đất cằn cỗi những thứ thuế vô lý gấp trăm lần thuế đất thời phong kiến” [5, tr.75]. Thuế điền mỗi mẫu từ 1 đồng tăng dần lên 1,5 đồng (lúc bấy giờ 1 đồng bạc Đông Dương tương đường 1 tạ thóc), thuế đinh (thuế bổ vào nam giới từ 18 tuổi trở lên) tăng từ 0,2 đồng lên 2,5 đồng mỗi người (tăng gấp 12 lần),v.v... Đau khổ trước nạn cướp bóc do thuế khóa thực dân, Phan Bội Châu trong Hải ngoại huyết thư viết:
“Trăm thứ thuế, thuế gì cũng ngặt,
Rút chặt dần như thắt chỉ xe,
Miền kẻ chợ, phía nhà quê,
Của đi có lối, của về thì không” [8, tr.78].
Không những vậy, nhân dân Thừa Thiên Huế còn phải nai lưng làm phu đài tạp dịch như đào sông, đắp đường, phá rừng hoặc làm công sở cho thực dân Pháp. Ai lắm tiền thì thuê người hoặc đút lót cho hương chức để trốn tránh, người nghèo thì phải đi phu quanh năm suốt tháng, kẻ khổ sở nhất vẫn là dân cùng đinh. Phẫn uất với chính sách cai trị hà khắc của thực dân Pháp, chí sĩ Phan Châu Trinh trong Thư gửi Toàn quyền Beau năm 1906 đã kịch liệt lên án: “Cái tệ sưu dịch không thể nói hết được, mỗi dân đinh một năm đóng thuế thân rồi phải mất 4 ngày công ích, 10 ngày công sưu,… người nọ đi, người kia về, nối gót nhau trên đường không ngày nào yên cả” [1, tr.20]. Sự cùng khổ của nhân dân Thừa Thiên sau này cũng được Bác kể lại: “Nhiều phụ nữ bản xứ thống khổ, phải mang nặng gông xiềng đi quét đường chỉ vì một tội là không nộp nổi thuế”, “Tất cả mọi điều mà người ta có thể nói ra vẫn còn ở dưới mức sự thật. Chưa có bao giờ, ở một nước nào mà người ta lại vi phạm mọi quyền làm người một cách dã man, độc ác, trắng trợn như thế!” [5, tr.443-444]. Chứng kiến đời sống cùng cực của nhân dân Thừa Thiên Huế, Nguyễn Tất Thành nhận thức nguyên nhân của sự thống khổ của đồng bào không chỉ do thực dân mà còn do vua quan bán nước; thấy được rằng phải đấu tranh để đồng bào mình bớt khổ; phải giành lấy cơm no, áo ấm, được học hành cho nhân dân; phải đấu tranh để nhân dân có quyền tự do, dân chủ. Quả đúng vậy, khi còn là người thiếu niên mười lăm tuổi. Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng báo. Lúc bấy giờ, Anh đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào.
3.3. Bồi dưỡng nhân cách và lý tưởng cách mạng
Nhân cách và lý tưởng cách mạng của Nguyễn Tất Thành là kết quả của sự hun đúc từ những giá trị văn hóa cao đẹp của dân tộc Việt Nam, của quê hương xứ Nghệ và văn hóa xứ Huế; được tôi luyện qua thực tiễn học tập, rèn luyện và đấu tranh không ngừng nghỉ của Nguyễn Tất Thành. Ở Huế gần 10 năm, lớp lớp tấm gương trung liệt và chí hướng cách mạng của những con người có tinh thần dân tộc như vua Thành Thái và Duy Tân; của những người thầy có yêu nước, cũng như các giá trị văn hóa tinh thần xứ Huế đã hun đúc nhân cách cách mạng và ý chí cứu nước của Nguyễn Tất Thành.
Trước hết, tấm gương chí lớn về tinh thần dân tộc của con người xứ Huế, mà điển hình nhất là vua Thành Thái và Duy Tân thực sự ảnh hưởng đến Nguyễn Tất Thành trong việc kiên định lý tưởng, giữ vững nhân cách con người Việt Nam trước mưu đồ và dã tâm xâm lược của thực dân Pháp. Vua Thành Thái và Duy Tân là những vị vua trẻ, có tinh thần dân tộc, yêu nước và có nhiều dự kiến cải cách đưa nước nhà đến giàu mạnh, nhân dân đến ấm no. Đối với Pháp, Thành Tháo và Duy Tân đều có tư tưởng chống Pháp quyết liệt. Có tài liệu cho rằng Thành Thái đã giao cho họa sĩ Lê Văn Miến vẽ các kiểu súng bộ binh để trang bị cho các đội nữ binh mưu một cuộc cách mạng lớn. Hay Duy Tân - từ niên hiệu đến hành động đều tỏ thái độ bất hợp tác với Pháp. Ông cho rằng: “nước bẩn thì phải tìm cách trừ khử những chất ngoại lai lẫn lộn vào trong đó”, “phải tìm cách trừ khử chúng (thực dân Pháp) đi thì dân mới có thể tiến lên ấm no giàu mạnh được” [4, tr.100]. Mặc dù trong cảnh “cá chậu chim lồng” nhưng những hành động yêu nước thương dân, tinh thần dân tộc và chí lớn của vua Thành Thái và Duy Tân đã tác động rất lớn đến Nguyễn Tất Thành. Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định lý tưởng tiếp tục sự nghiệp bỏ dở của các vị tiền bối Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, là để đánh đuổi thực dân Pháp để giành độc lập cho dân tộc, cho Tổ quốc.
Không chỉ tiếp nhận tinh thần dân tộc và chí lớn của các vị vua trẻ tuổi, sự hình thành và phát triển nhân cách của Nguyễn Tất Thành còn bắt nguồn từ tinh thần yêu nước, nhân cách cao đẹp của những người thầy giáo chân chính khi được cha cho vào học các trường Tiểu học Pháp - Việt Đông Ba và trường Quốc Học Huế, đó là thầy Hoàng Thông và thầy Lê Văn Miến. Trong thời gian học ở trường Pháp Việt - Đông Ba, Nguyễn Tất Thành không chỉ được học Hán văn với thầy Hoàng Thông, mà còn được thầy chỉ dạy những bài học về cách cư xử, lối sống, nhân phẩm và danh dự của một người Việt Nam mất nước. Thầy Hoàng Thông đã soạn cuốn sách “Tự trị thượng sách” để giáo dục thanh niên học sinh. Vin vào một câu trong cuốn sách “Nước dù bất hạnh mà mất, không phải mất nước của một họ (Nguyễn) riêng mà thôi; cùng với nước mất dân tộc bị diệt chủng” [2, tr.52], chính quyền thực dân tống giam thầy ở lao Thừa phủ. Chính thầy là người đã giới thiệu Nguyễn Tất Thành tham gia làm liên lạc cho phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu (1908). Thầy còn dạy cho Thành bài học về lòng thương yêu con người, yêu dân tộc mình và “hãy để những giọt nước mắt ấy khóc cho dân, cho nước”. Lời dạy của thầy giữa muôn vàn nguy khó của thời cuộc như ngọn đèn khai tâm Nguyễn Tất Thành. Đó là bài học củng cố thêm ý chí đấu tranh cho đồng bào, quê hương, đất nước; là động lực để Thành thực hiện chuyến hành trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc.
   Tháng 9 năm 1908, Nguyễn Tất Thành vào lớp Trung đẳng trường Quốc Học Huế và được học với thầy Lê Văn Miến (1873-1943). Thầy là một tấm gương yêu nước chân chính của một trí thức Tây học, với tài năng sư phạm và nhân cách cao đẹp, thầy đã góp phần đào tạo rất nhiều thế hệ học sinh “vừa hồng vừa chuyên” cho đất nước. Một trong những người học sinh đó, có lẽ chính thầy Miến cũng không hề đoán định được, sau này trở thành người thầy và lãnh tụ của cách mạng Việt Nam - Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thầy Lê Văn Miến là một người tinh thông Hán học, thấm nhuần những giá trị văn hóa Pháp đã để lại nhiều dấu ấn đặc biệt đối với Nguyễn Tất Thành. Việc dạy dỗ của thầy là một yếu tố quan trọng trong việc hình thành tư tưởng sang phương Tây chứ không sang phương Đông của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời trẻ.
3.4. Hình thành chí hướng cách mạng và con đường cứu nước cứu dân
Xã hội Thừa Thiên Huế những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX dưới ách cai trị của thực dân Pháp tồn tại quá nhiều áp bức bất công, những mâu thuẫn xã hội bùng phát mạnh mẽ, và người thanh niên giàu nghĩa khí Nguyễn Tất Thành đã thụ cảm truyền thống yêu nước, tự tôn dân tộc của nhân dân Thừa Thiên Huế và có chuyển biến từ “nhận thức yêu nước” đến “hành động yêu nước”.
Trước hết, chuỗi hành động yêu nước của phong trào Cần Vương đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhận thức và hành động của Nguyễn Tất Thành. Phong trào Cần Vương, kéo dài từ năm 1885 cho đến năm 1895, là một bước ngoặt có ý nghĩa to lớn trong công cuộc kháng Pháp. Mặc dù nó thất bại một cách bi tráng nhưng đã mở ra một thời kỳ đánh Pháp. Chính dư âm của phong trào Cần Vương và tấm gương trung liệt của các chí sĩ yêu nước đã ảnh hưởng đến tâm hồn và khối óc Nguyễn Sinh Cung. Sự thất bại của phong trào về sau đã giúp Anh nhận thấy các phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến không có khả năng vạch ra giải pháp đấu tranh phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và xu thế phát triển của thời đại.
Bên cạnh đó, tinh thần yêu nước và xu hướng cứu nước của các bậc sĩ phu, trí nhân hào kiệt ở Huế cũng là những nhân tố quan trọng giúp Nguyễn Tất Thành đánh giá và lựa chọn đúng con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Năm 1906, Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế lần thứ hai. Lúc này, ở Thừa Thiên Huế, các phong trào yêu nước lên cao như Phan Bội Châu với Duy Tân hội và phong trào Đông Du do ông khởi xướng lan rộng trong giới sĩ phu và tầng lớp thanh niên; phong trào Duy Tân, chống thuế bùng phát mạnh mẽ ở Trung Kỳ; trường Đông Kinh nghĩa thục mở cửa tại Hà Nội truyền bá nhiều tư tưởng mới, cổ động cho phong trào cải cách, dân chủ, duy tân lan rộng khắp cả nước… Những biến động đó đã tác động không nhỏ đến không khí chính trị ở Huế. Trong đó, Phan Bội Châu tiêu biểu cho xu hướng bạo động, muốn dựa vào sự giúp đỡ của nước ngoài để đánh đuổi thực dân Pháp. Phan Châu Trinh với xu hướng cải cách ôn hòa, muốn dựa vào Pháp thực hiện cải lương, phát động phong trào cải cách, duy tân rộng lớn ở Trung Kỳ trên nhiều mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Mặc dù thất bại, nhưng các phong trào yêu nước, đặc biệt là phong trào Duy Tân đã thực sự tác động mạnh mẽ đến Nguyễn Tất Thành. Anh tham gia phong trào với tất cả nhiệt huyết yêu nước đã nung nấu bấy lâu nay, Anh hô hào “hợp quần”, “ái quốc”, cùng với thanh niên học sinh Huế ra sức cổ động xây dựng nếp sống mới cho nhân dân. Có thể khẳng định rằng, trong chuỗi hành động của hành trình “dấn thân” tìm đường cứu nước, sự tham gia trực tiếp vào phong trào Duy Tân là bước ngoặt quan trọng, đánh dấu sự chuyển biến tư tưởng, chín muồi trong nhận thức, bộc phát qua hành động của Nguyễn Tất Thành. Sự thất bại của phong trào này cũng cho Thành thấy rõ “đối với cuộc vận động duy tân, không thể thực hiện được, một khi chưa đánh đuổi thực dân Pháp” [2, tr.60].
Bên cạnh đó chí hướng cách mạng của Nguyễn Tất Thành được hình thành từ sự tham gia phong trào chống thuế của nhân dân Thừa Thiên Huế (4/1908). Đầu thế kỷ XX, phong trào Duy Tân được khởi xướng và bùng phát mạnh mẽ mà đỉnh cao là cuộc nổi dậy của nhân dân kháng sưu thuế năm Mậu Thân (1908) ở Trung kỳ. Trong khoảng thời gian này, Nguyễn Tất Thành dù mới chỉ là một cậu học sinh vừa tốt nghiệp tiểu học nhưng Anh đã “dấn thân” vào cuộc đấu tranh cùng với đồng bào, tham gia vào phong trào một cách tích cực trong cả thái độ lẫn hành động chống Pháp. Sau này, Trần Dân Tiên nhắc lại: “Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ, anh đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh đã tham gia công tác bí mật, nhận công tác liên lạc” [9, tr.12].
Tựu trung lại, sự thất bại của các phong trào yêu nước ở Thừa Thiên Huế vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã cho Nguyễn Tất Thành thấy rõ những hạn chế về lý luận dẫn đường của các cuộc đấu tranh theo tư tưởng yêu nước truyền thống. Thất bại đó đòi hỏi cần phải thay đổi tư duy yêu nước, nghĩa là cần phải tìm tòi, hình thành lý luận mới về con đường, phương pháp cứu dân cứu nước phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Bài học thất bại đó đã tạo điều kiện thúc đẩy sự hình thành tư duy yêu nước mới, cho sự biến chuyển về chất từ tư duy yêu nước truyền thống sang tư duy yêu nước hiện đại, mà Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh như là dấu gạch nối quan trọng.
4. KẾT LUẬN
Văn hóa Huế, đặc biệt là điều kiện lịch sử - xã hội, con người và cảnh vật, các truyền thống và giá trị văn hóa đã tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển nhân cách, tư tưởng yêu nước thương dân và chí hướng sang phương Tây tìm đường cứu nước của người thanh niên ưu tú Nguyễn Tất Thành. Chủ tịch Hồ Chí Minh thời niên thiếu trong gần 10 năm gắn bó với Huế, đã chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, đời sống nhân dân lầm than cơ cực dưới sự tàn bạo của thực dân Pháp. Với lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn dân tộc và cảm thương nỗi đau của người dân mất nước đã định hình trong tư tưởng Nguyễn Tất Thành một khát vọng đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Thực tiễn sinh động của Thừa Thiên Huế, đặc biệt là làn sóng đấu tranh chống thực dân Pháp khi Nguyễn Tất Thành ở lứa tuổi 16 - 18 không chỉ tác động đến sự hình thành tư tưởng yêu nước của Anh mà còn cuốn hút anh tham gia vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Bằng việc tham gia tích cực phong trào đấu tranh của nhân dân Thừa Thiên, Nguyễn Tất Thành đã thực hiện một chuỗi hành động cách mạng cụ thể và nhờ đó Anh tích lũy được kinh nghiệm, hoàn thiện và làm giàu thêm vốn tri thức của mình. Học giả David Helberstam hoàn toàn có lý khi cho rằng: “Tư tưởng yêu nước của Hồ được tăng cường ở Huế”[3, tr.1]. Hay như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng nhận định nhờ sự hòa mình trong cái nôi của phong trào yêu nước, sự trưởng thành từ nền tảng giáo dục gia đình và sự miệt mài học tập của bản thân, sự mẫn cảm đặc biệt, sự gần gũi với quần chúng lao động và nhờ tác động của phong trào chống Pháp năm 1908, Nguyễn Tất Thành bắt đầu hoạt động cách mạng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[7].      Quốc Sử Quán triều Nguyễn (1992), Đại Nam nhất thống chí, tập 1, bản dịch của Viện sử học, Nxb Thuận Hóa, Huế.
[8].      Tiểu ban nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh ủy Nghệ An (2002), Hồ Chí Minh thời niên thiếu, Nxb Nghệ An.


Title: THE INFLUENCES OF HUE’S CULTURE ON THE FORMATION OF HO CHI MINH’S PATRIOTISM
Abstract: Thua Thien Hue is one of the key areas contributing to the  formation of personality, patriotism and desire for national liberation of Nguyen Tat Thanh. This article focused interpret the influences of Hue’s Culture to the formation of Ho Chi Minh’s patriotism.



NGUYỄN VĂN QUANG
Khoa GDCT, Trường ĐHSP Huế
Điện thoại: 0973.882.488
Email: nguyenvanquang@dhsphue.edu.vn

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...